Du lịch tâm linh Đồng Nai: tịnh xá Ngọc Uyển ở thành phố Biên Hòa


Tịnh xá Ngọc Uyển ở thành phố Biên Hòa tọa lạc trong một khuôn viên rộng rãi, nơi có vị trí khá đắc địa: cách đó không xa bên trái là núi Châu Thới, bên phải là sông Đồng Nai, trước mặt là núi Bửu Long.

>> Về đây Quan Âm Tu Viện ở thành phố Biên Hòa, Đồng Nai
>> Tân Sơn Cổ Tự, ngôi chùa nhỏ an yên ở thành phố Biên Hòa

Tịnh xá Ngọc Uyển nằm ở địa chỉ K2/76, khu phố 3, phường Bửu Hòa, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, cạnh quốc lộ 1K. Đây là ngôi tịnh xá ni giới đầu tiên được chư Tôn đức Tăng Ni hệ phái Khất Sĩ chọn làm điểm chung cho Ni giới Khất Sĩ đứng ra đăng cai tổ chức đại lễ tưởng niệm 55 năm ngày Tổ sư Minh Đăng Quang vắng bóng năm 2009.

Tịnh xá Ngọc Uyển có từ năm 1968 do ni trưởng Thích Nữ Huỳnh Liên – Đệ nhất ni trưởng Ni giới hệ phái Khất Sĩ cùng quý ni sư tạo lập trên một khu đất có diện tích 6 mẫu. Sau nhiều lần xây dựng thêm và trùng tu, tịnh xá đã có được diện mạo khang trang, đẹp đẽ như ngày hôm nay.

Bên trong tịnh xá có phòng thuốc từ thiện, kề đó là trường trung cấp Phật học tỉnh Đồng Nai – cơ sở ni hệ phái Khất Sĩ Việt Nam.

Cổng tam quan tịnh xá Ngọc Uyển ở thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

Không gian bình yên, thanh tịnh của tịnh xá.

Mỗi một nhóm tượng Phật giáo này đều do các Phật tử, nhà tài trợ cúng dường.

Cây bồ đề mùa thay lá.

Trường trung cấp Phật học tỉnh Đồng Nai – cơ sở ni hệ phái Khất Sĩ Việt Nam

*** Phân biệt được chùa, tự, già lam, tu viện, thiền viện, tổ đình, tùng lâm, tịnh xá, am

Chùa: gọi nôm na những nơi thờ tự, tu hành của Phật giáo.Từ điển Phật học giải thích, chùa là nơi thờ Phật phổ biến ở các nước Đông Á và Đông Nam Á như Trung Quốc, Nhật Bản, Đại Hàn, Việt Nam… Cũng có từ điển Phật học cho là chùa có thể do tiếng Phạn (tiếng Sankrit là stùpa, hay tiếng Pàli là thùpa) mà ra. Stùpa hay thùpa đều có nghĩa là tháp. Tại Ấn Độ, tháp là nơi cất giữ xá lị (xá lợi) Phật, cũng là nơi chôn cất hay cất giữ tro, cốt của các vị đại sư.

Tự (寺): là chùa thờ Phật, cũng là nơi tăng tu hành. Đây là chữ Hán Việt, tên gọi có từ thời Hán, cũng có nghĩa là nhà ở của quan. Ví dụ như An Phước Cổ Tự (Đồng Tháp).

Già lam (伽藍): là tiếng Hán Việt, phiên âm chữ Phạn sanghàràma, có nghĩa là nơi thờ Phật, nơi tăng ở.

Tu viện: là nơi chuyên tu tập của tăng, ni, thường là những ngôi chùa lớn, nơi có thể chứa được nhiều tăng ni đến tu tập. Ví dụ tu viện Bát Nhã (Lâm Đồng).

Thiền viện: là những ngôi chùa lớn, chuyên tu theo phái thiền định. Ví dụ thiền viện Trúc Lâm Chánh Giác (Tiền Giang).

Tổ đình: là những chùa Tổ, nơi bắt đầu của một pháp phái do một vị Tổ sư khai sáng. Ví dụ tổ đình Phước Tường (thành phố Hồ Chí Minh).

Tùng lâm (tòng lâm): tiếng Phạn là vihàra, nghĩa là nơi thờ Phật, chùa nói chung, nơi có tăng ni ở. Cũng tương tự như tự, già lam,…

Tịnh xá: ở Việt Nam, các chùa của hệ phái Khất Sĩ (do Tổ sư Minh Đăng Quang sáng lập từ năm 1944) đều được gọi là tịnh xá. Ví dụ tịnh xá Ngọc Phương (thành phố Hồ Chí Minh).

Am: được coi là một kiến trúc nhỏ thờ Phật. Gốc của am là từ Trung Quốc, được mô tả như ngôi nhà nhỏ, lợp lá, dùng làm nơi ở của con cái chịu tang cha mẹ, về sau đổi kết cấu với mái tròn, lợp lá, làm nơi ở và nơi đọc sách của văn nhân. Từ đời Đường, am là nơi tu hành và thờ Phật của ni cô đặt trong vườn tư gia.

*** Bài viết có sử dụng tư liệu được tổng hợp và biên tập lại từ nhiều nguồn trên Internet, mang giá trị tham khảo.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s