Dinh thự họ Vương (dinh vua Mèo) ở thung lũng Sà Phìn, Hà Giang


Dinh thự họ Vương với kiến trúc đặc sắc là một điểm tham quan không thể bỏ qua dành cho du khách khi đến với vùng địa đầu Tổ quốc Hà Giang.

>> Thung lũng Sủng Là: đóa hồng của cao nguyên đá Đồng Văn
>> Dạo quanh phố cổ Đồng Văn, Hà Giang

Bài hơi dài nên độc giả chịu khó đọc nha, vì mình nghĩ có khá nhiều thông tin hay liên quan đến huyền thoại vua Mèo.

Dinh thự họ Vương (hay khu dinh thự của vua Mèo, dinh vua Mèo, Nhà Vương) tọa lạc trong một thung lũng thuộc địa bàn xã Sà Phìn, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang. Toàn bộ dinh thự có diện tích gần 3.000 m2, được khởi công vào năm 1898 và hoàn thành vào năm 1907. Quá trình xây dựng tốn 15 vạn đồng bạc trắng Đông Dương, tương đương 150 tỷ đồng ngày nay.

Vua Mèo, hay vua H’Mông là một chức vụ thủ lĩnh tinh thần, hoặc “lãnh chúa”, của cộng đồng người H’Mông tại các vùng nhất định ở Việt Nam và Lào.

Theo nhiều tài liệu từ Internet, thì đa số các dân tộc thiểu số ở vùng núi phía Bắc Việt Nam là di cư từ phía Nam Trung Quốc sang, nhằm trốn tránh các cuộc chiến tranh sắc tộc do người Hán phát động với mục đích tiêu diệt các sắc tộc nhỏ để chiếm đất đai ruộng nương. Trong số các dân tộc trốn chạy người Hán có dân tộc Mông (hay H’Mông, Mèo). Trước đây, dân tộc Mông sống ở bình nguyên Hoàng Hà phì nhiêu, mặc dù là dân tộc thiểu số nhưng họ không chịu khuất phục người Hán. Chiến tranh diễn ra liên miên, họ phiêu dạt khắp nơi, cuối cùng tụ lại trên vùng núi phía Bắc Việt Nam.

Người Mông di cư tới Đồng Văn (Hà Giang) vào cuối thế kỷ XVII, đầu thế kỷ XVIII. Vương Chính Đức với tên là Vàng Dúng Lùng lúc bấy giờ đã được sinh ra trong một gia đình nghèo khổ, cha mất khi ông còn nhỏ. Vốn thông minh, gan dạ, lại có máu giang hồ, lúc lên 10 tuổi ông đã đặt chân khắp mảnh đất Đồng Văn, có lần bỏ nhà đi vài tháng trời, có lần khi trở về nhà, mẹ ông suýt không còn nhận ra ông nữa…

Nhà Thanh thời ấy lo ngại người Mông ở Đồng Văn câu kết với nhóm người nổi dậy ở phía Nam Trung Quốc nên cho quân tiến đánh. Thủ lĩnh người Mông ở Đồng Văn khi đó là Vừ Phán Lùng đã lãnh đạo nghĩa quân chống lại quân Thanh và quân Pháp đang tiến hành bình định các dân tộc miền núi phía Bắc. Vừ Phán Lùng do bị phản bội nên bị quân phiến loạn Trung Quốc giết, Vàng Dí Tủa lên thay, lãnh đạo nghĩa quân một thời gian thì bị bệnh mất.

Do mưu trí và dũng cảm, Vàng Dúng Lùng được suy tôn làm thủ lĩnh để lãnh đạo cộng đồng người Mông trên cao nguyên Đồng Văn. Dưới sự lãnh đạo của Vàng Dúng Lùng, nghĩa quân biết dựa vào núi rừng hiểm trở đánh bại các phiến quân từ bên kia biên giới tràn sang, đồng thời chặn đứng các cuộc xâm lấn của giặc Pháp từ Cao Bằng sang và từ Hà Giang lên.

Năm 1890, Pháp đã huy động một đội quân hùng hậu kết hợp với binh lính địa phương là các dân tộc Tày, Thái thông thuộc địa hình từ Cao Bằng đánh sang. Quân của Vàng Dúng Lùng với vũ khí thô sơ không chống cự nổi đành để mất Đồng Văn cho quân Pháp chiếm đóng. Vàng Dúng Lùng lãnh đạo nghĩa quân rút vào rừng sâu chiến đấu ròng rã mấy năm trời khiến cho quân Pháp nhiều lần thất bại thảm hại, có nguy cơ không giữ nổi Đồng Văn.

Pháp nhận thấy cần phải dùng người Mèo để trị người Mèo nên Hiệp ước Pháp-Mèo đã được ký kết vào tháng 10/1913 với nhiều điều khoản, trong đó có điều khoản Pháp rút khỏi Đồng Văn, trả Đồng Văn cho Vàng Dúng Lùng cai quản theo hình thức tự trị, cho phép Vàng Dúng Lùng thu mua và bán thuốc phiện cho người Pháp. Triều đình nhà Nguyễn đã phong cho Vàng Dúng Lùng chức quan Bang Cơ, được cấp mũ áo quan của triều Nguyễn, thay mặt triều đình cai trị vùng đất Đồng Văn. Bắt đầu từ đó, Vàng Dúng Lùng sử dụng tên Vương Chính Đức. Từ “vua Mèo” được người dân dành cho Vương Chính Đức.

Nhờ việc buôn bán thuốc phiện với người Pháp, Vương Chính Đức trở nên giàu có rất nhanh. Có tài liệu nói rằng 1/3 số thuốc phiện người Pháp mua ở Đông Dương bán ra ngoài thế giới là do vua Mèo cung cấp. Chất lượng thuốc phiện của Đồng Văn cũng là ngon nhất, nên được các lái buôn người Pháp rất mê.

Tiền thu được từ việc buôn bán thuốc phiện, Vương Chính Đức dùng tiến hành xây dựng lâu đài của riêng mình để khẳng định vị thế của vua Mèo trên đất Đồng Văn. Trước khi khởi công xây dựng, vua Mèo đã qua Trung Quốc tìm thầy phong thủy sang Việt Nam, đi qua khu vực 4 huyện nằm trong quyền cai quản của mình để chọn địa thế đất. Cuối cùng, ông và thầy quyết định dừng chân tại thôn Xà Phìn, địa thế đất nằm giữa thung lũng Sà Phìn. Đặc biệt, ở nơi đây có một khối đất nổi lên cao như hình mui con rùa, tượng trưng cho thần Kim Quy. Nếu xây dựng dinh thự tại đây thì sự nghiệp của Vương Chính Đức sẽ thành về sau. Mảnh đất bốn bề có núi đá bao bọc, đó chính là thành lũy bảo vệ cho lâu đài. Với vị trí hiểm yếu như vậy, những người từ bên ngoài muốn vào được Sà Phìn phải vượt qua những vách đá tai mèo dựng đứng sắc lẹm, chỉ cần một động tĩnh nhỏ, quân lính của Vương Chính Đức cũng sẽ phát hiện ra.

Có thông tin chưa xác thực kể lại rằng, Vương Chính Đức đã thuê các thợ xây dựng giỏi là người Trung Quốc ròng rã suốt 9 năm trời. Sau khi hoàn thành, vua Mèo đã tổ chức một bữa tiệc linh đình để chiêu đãi thợ. Các thợ ăn uống no say và được ông trả công là một túi bạc trắng lớn cùng nhiều quà cáp có giá trị. Sáng hôm sau đoàn thợ ra về, nhưng tới biên giới thì bị một toán cướp chặn lại cướp hết của cải rồi bị giết sạch.

Do thế lực của vua mèo nằm tại khu vực núi đá hiểm trở, lại là vùng biên ải nơi mà các triều đại phong kiến Trung Quốc đều nhòm ngó, trước ngày Cách mạng Tháng Tám 1945 bùng nổ, Bác Hồ nhận thấy vai trò của Vương Chính Đức nên đã cử cán bộ thuyết phục ông cùng Việt Minh kháng Pháp, đuổi Nhật, chống Tàu Tưởng.

Sau khi Vương Chính Đức mất, quyền được trao lại cho người con thứ tên là Vương Chí Sình, tiếp tục sự nghiệp đánh đuổi giặc Pháp. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mời Vương Chí Sình tham gia Quốc hội khoá I và kết nghĩa làm anh em, đổi tên cho ông là Vương Chí Thành, tặng ông thanh bảo kiếm, bên ngoài vỏ khắc 8 chữ: “Tận trung báo quốc/ Bất thụ nô lệ”.

Về kiến trúc, dinh thự vua Mèo có ảnh hưởng kiến trúc của 3 nền văn hóa: Trung Quốc, H’Mông và Pháp, do một người thợ quê gốc Nam Định thiết kế. Ngôi nhà có 4 nhà ngang, 6 nhà dọc, được chia thành tiền dinh, trung dinh và hậu dinh, có tổng cộng 64 buồng được xây thành 2 tầng tường bằng đá xanh, mái vách bằng gỗ thông, và ngói làm từ đất nung. Lối dẫn vào nhà được làm bằng những phiến đá hoa cương có chạm khắc nhiều hoa văn, mái nhà cong, uốn lượn, mái cổng được làm bằng gỗ lợp ngói âm dương, trạm khắc tinh xảo, nhiều hoa văn.

Khu tiền dinh là nơi ở của lính canh, lính hộ vệ và nô tì. Trung dinh và hậu dinh là nơi ở, nơi làm việc của các thành viên trong gia tộc họ Vương. Lúc ban đầu, toàn bộ gỗ được dùng trong ngôi nhà đều là gỗ thông đá. Nhưng kể từ khi trở thành tài sản của nhà nước, tất cả các vật liệu gỗ của ngôi nhà đã bị thay đổi khoảng 60% bằng gỗ lim và gỗ nghiến.

Tường bảo về bên ngoài được xây cao vút, có quân lính bảo vệ nên khó có thể đột nhập từ bên ngoài, cách mỗi đoạn tường lại được bố trí các lỗ châu mai và chòi canh để bảo đảm sự an toàn cho cả khu dinh thự. Phía sau dinh thự có một bể chứa nước rất lớn có thể tích 300 m3 được xây dựng toàn bộ bằng đá, thiết kế hứng nước mưa từ trên các dãy nhà xuống. Do nằm trong vùng thường xuyên khô hạn nên ngày nay chiếc bể nước này là nguồn cung cấp nước chính cho nhân dân ở Sà Phìn.

Phía ngoài gian chính giữa có treo một bức hoành phi bằng chữ Hán do vua nhà Nguyễn – Khải Định phong tặng cho vua Mèo: “Biên chính khả phong” (có thể hiểu là: Cách trị vì của ông Vương Chính Đức ở miền biên cương này đáng làm mẫu mực để mà lan toả khắp vùng) vào năm 1923.

Nét đặc sắc của khu dinh thự vua Mèo nằm ở cấu trúc và cách bố trí các phòng như một thành quách thu nhỏ. Dinh thự được xây như một pháo đài kiên cố, có 2 lô cốt để phòng thủ, có kho cất giữ tài sản, kho vũ khí, kho thuốc phiện…

Một điểm nhấn nữa của dinh thự họ Vương là nghệ thuật điêu khắc trong các phần của dãy nhà mang đậm dấu ấn của dòng họ Vương, dấu ấn của hoạt động buôn bán thuốc phiện. Nhiều chi tiết bằng đá của tòa nhà được chạm khắc cầu kì, khéo léo mang các biểu tượng cho sự phú quý, hưng thịnh. Những chân cột được chạm khắc hình cuống quả thuốc phiện to như cái chum, giống đến từng chi tiết, được mài cho thật bóng bằng bạc trắng. Các trụ cầu thang cũng là tác phẩm điêu khắc bằng đá quý giá, mang bóng dáng của cây hoa anh túc. Các họa tiết trên xà nhà, chái nhà, các cánh cửa, cửa sổ chạm hình quả thuốc phiện tinh xảo, bắt mắt.

Trải qua bao biến động của thời gian, chiến tranh, và lịch sử, một số vật liệu trong khu dinh thự vua Mèo đã bị thay thế, các vật dụng cũng không còn nhiều, nhưng kết cấu công trình vẫn giữ được nguyên nét kiến trúc độc đáo. Khu dinh thự đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp vào hạng di tích quốc gia vào năm 1993. Hiện nay, dinh thự họ Vương là một điểm tham quan thu hút đối với du khách trong và ngoài nước khi đặt chân đến Hà Giang.

Toàn cảnh khu dinh thự họ Vương (dinh vua Mèo) nhìn từ xa, nơi có rặng cây sa mộc

Phía trước khu dinh thự vua Mèo

Giá vé tham quan là 20.000 đ/ người lớn (thời điểm tháng 9/2019)

Hai hàng cây sa mộc cao vút, thẳng tắp hàng trăm năm tuổi trên lối vào khu dinh thự

Cây sa mộc còn được gọi là sa mu, xa mu, sà mu, sa múc, thông mụ, co may, long len, thông Tàu. Đây là loài cây gỗ lớn, có giá trị kinh tế cao, gỗ bền đẹp dùng trong xây dựng và đóng đồ gia dụng. Sa mộc ưa ánh sáng, mọc nhanh so với một số loài cây lá kim khác, sinh trưởng tốt ở các huyện vùng cao của tỉnh Hà Giang, Lào Cai…

Từ lâu, cây sa mộc được coi là biểu tượng của vùng cao phía Bắc vì cây luôn vượt qua mọi gian khó để xanh lá quanh năm. 

Chiếc cổng đá của dinh hiện lên bề thế

Cổng nhà cong, uốn lượn với những cánh dơi – biểu tượng cho chữ “phúc”.

Mái cổng bằng gỗ được chạm khắc tinh xảo, với nhiều kiểu hoa văn.

Bức hoành phi bằng chữ Hán do vua nhà Nguyễn – Khải Định phong tặng cho vua Mèo: “Biên chính khả phong”

Sơ đồ tổng thể di tích dinh nhà Vương

Phòng chờ của khách

Phòng làm việc và tiếp khách của Vương Chính Đức

Ảnh vua Mèo Vương Chính Đức

Phòng làm việc của tiểu đội trưởng

Phòng ở của con cháu và người giúp việc

Một số vật dụng đơn sơ được trưng bày cho khách tham quan

Một số ảnh gia đình vua Mèo Vương Chính Đức

Kho vũ khí

Những chỗ được phục dựng, thay mới

Các họa tiết trên xà nhà, chái nhà, các cánh cửa, cửa sổ chạm hình quả thuốc phiện tinh xảo, bắt mắt.

Hoa văn chạm trổ trên cửa

Hoa văn trên cổng đá

Phần cột mái ngói

Bên trong một tầng gác

Sân vườn bên hông dinh thự

*** Bài viết có sử dụng tài liệu tổng hợp, chắt lọc và biên tập từ nhiều nguồn trên Internet.

>> Tour khám phá cao nguyên đá Đồng Văn Hà Giang – hẻm vực Tu Sản – sông Nho Quế 3 ngày 2 đêm
>> Tour Mộc Châu săn mây trên đỉnh Pha Luông – Tà Xùa 3 ngày 2 đêm
>> Tour Cao Bằng – Suối Lê Nin – Tịnh Tây Trung Quốc – Thác Bản Giốc 3 ngày 2 đêm

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s