Lăng Tự Đức Huế – Khiêm Lăng: bình yên và đầy chất thơ


Cho những ai yêu thích giá trị văn hóa, những câu chuyện lịch sử, phong cảnh kiến trúc và thiên nhiên hài hòa, thì mời đến tham quan lăng Tự Đức khi ghé qua cố đô Huế mộng mơ. Một nơi bình yên và đầy chất thơ…

>> Sự kết hợp văn hóa Đông – Tây trong lăng Khải Định
>> Trầm mặc Huế

Lăng Tự Đức (hay Khiêm Lăng) tọa lạc trong một thung lũng hẹp thuộc làng Dương Xuân Thượng, tổng Cư Chánh (nay là thôn Thượng Ba, xã Thủy Xuân, thành phố Huế).

Hướng dẫn đường đi

Lấy trung tâm thành phố Huế làm chuẩn, từ đường Lê Lợi (dọc sông Hương), bạn đi về hướng đường Điện Biên Phủ (qua chùa Từ Vân, chùa Từ Đàm…), tới cuối đường thì gặp đàn Nam Giao, cũng là ngã ba đường Ngự Bình – Lê Ngô Cát, thì quẹo phải vô đường Lê Ngô Cát. Lại đi thẳng hoài đến cuối đường là ngã ba giao nhau với đường Huyền Trân Công Chúa thì quẹo trái, đến cuối đường lại quẹo trái vô đường Đoàn Nhữ Hải – là gặp lăng Tự Đức ở bên trái.

Mùa này bàng đang thay lá

Giá vé đây ha, nếu mua lẻ thì sẽ khá là cao (nhưng vào tham quan mới thấy đáng).

Tham khảo thêm giá vé tham quan các nơi tại cố đô Huế

Hoàng Cung Huế (Đại Nội – Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế): 150.000 đ/ người lớn; 30.000 đ/ trẻ em từ 7 – 12 tuổi
Lăng Minh Mạng, lăng Tự Đức, lăng hải Định: 100.000 đ/ người lớn; 20.000 đ/ trẻ em từ 7 – 12 tuổi
Lăng Gia Long, lăng Thiệu Trị, lăng Đồng Khánh; Điện Hòn Chén: 40.000 đ/ người lớn
Cung An Định; đàn Nam Giao: 20.000 đ/ người lớn

Nếu nhiều thời gian và có ý định tham quan nhiều nơi, bạn có thể mua vé theo cụm để tiết kiệm tiền:

Hoàng Cung Huế – lăng Minh Mạng – lăng Khải Định: 280.000 đ/ người lớn; 55.000 đ/ trẻ em từ 7 – 12 tuổi
Hoàng Cung Huế – lăng Minh Mạng – lăng Tự Đức – lăng Khải Định: 360.000 đ/ người lớn; 70.000 đ/ trẻ em từ 7 – 12 tuổi

Các đối tượng được miễn, giảm vé

1. Miễn thu phí tham quan đối với khách của Tỉnh ủy, Hội đồng Nhân dân tỉnh, Ủy ban Nhân dân tỉnh và đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh trong trường hợp có giấy giới thiệu của Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh.

2. Miễn thu phí tham quan đối với trẻ em dưới 7 tuổi và học sinh các trường phổ thông tiểu học, phổ thông cơ sở, phổ thông trung học thuộc tỉnh do nhà trường tổ chức tham quan ngoại khóa hàng năm theo kế hoạch đã được đăng ký với Trung tâm BTDTCĐ Huế, kèm theo danh sách cụ thể.

3. Miễn thu phí tham quan đối với các ngày lễ, tết theo chỉ đạo của Ủy ban Nhân dân tỉnh.

4. Giảm 50% phí tham quan đối với các đối tượng là thân nhân liệt sĩ, anh hùng lực lượng vũ trang, anh hùng lao động, thương binh,người hưởng chính sách như thương binh, bệnh binh, người tàn tật trong trường hợp tổ chức tham quan tập thể.

5. Giảm 50% phí tham quan đối với người cao tuổi (là công dân Việt Nam đủ từ 60 tuổi trở lên).

6. Giảm tối đa không quá 50% phí tham quan cho sinh viên các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp do nhà trường tổ chức tham quan ngoại khóa hằng năm theo kế hoạch đã được đăng ký với Trung tâm BTDTCĐ Huế, kèm theo danh sách cụ thể.

7. Giảm 50% phí tham quan cho người dân ở Huế, chỉ cần xuất trình chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu tại quầy bán vé.

Bảng nội quy tham quan lăng

Thời gian đóng – mở cửa tại các điểm tham quan

Mùa hè: từ 6h30 đến 17h30
Mùa đông: từ 7h00 đến 17h00

Trở lại với lăng Tự Đức, sau khi mua vé (là loại thẻ nhựa), bạn sẽ được hướng dẫn qua cổng soát vé, kiểu như vé đi tàu điện ngầm ở các nước Singapore, Malaysia… vậy. Nếu là vé dùng 1 lần, thì bạn cho thẻ vào khe, sau đó đẩy thanh chắn và đi qua. Nếu là thẻ dùng nhiều lần (khi mua loại vé tham quan nhiều chỗ), thì bạn sẽ cho thẻ lên mặt trên của máy, để máy nhận diện, rồi giữ lại thẻ để còn dùng chỗ khác. Cái tiện lợi của thẻ nhựa là hoạt động nhanh gọn, đỡ tốn nhân lực soát vé, mà lại góp phần bảo vệ môi trường (do tái sử dụng nhiều lần).

Ảnh minh họa, mượn trên mạng của Trương Hiếu

Khi vào tham quan là từ một cổng, và ra ngoài ở một cổng khác, như vậy thì du khách sẽ đi trọn một vòng khu lăng.

Vua Tự Đức đã sớm nghĩ đến việc xây lăng mộ cho mình ngay khi còn sống. Vốn là một người ham học, hiểu biết nhiều và đặc biệt yêu thích thơ văn, yêu nghệ thuật, ông đã chọn cho mình một nơi yên nghỉ bình yên và thơ mộng. Công trình không chỉ là nơi yên nghỉ sau này, mà còn là nơi vua nghỉ ngơi, làm việc mỗi khi ghé qua đây – như một hành cung thứ hai để vua tiêu sầu và phòng lúc “ra đi bất chợt”.

Khi mới khởi công xây dựng, vua Tự Đức đặt tên cho công trình là Vạn Niên Cơ. Nhưng do công việc sưu dịch xây lăng quá cực khổ, lại bị quan lại đánh đập tàn nhẫn, đã tạo nên cuộc nổi loạn dân phu xây lăng. Cuộc nổi dậy – cũng là cuộc đảo chính lần thứ ba dưới triều vua Tự Đức, do Đoàn Hữu Trưng (còn được gọi là Đoàn Trưng) khởi xướng, tin rằng nếu đưa Đinh Đạo (tức Ưng Đạo, con trai trưởng của Hồng Bảo – anh trai vua Tự Đức) lên thay thì sẽ cải thiện được tình hình rối ren trong nước và công cuộc kháng Pháp sẽ hiệu quả hơn. Do lực lượng nổi dậy dùng chày vôi (dụng cụ lao động của dân phu xây lăng) làm vũ khí, nên sử nhà Nguyễn và người dân quen gọi sự kiện này là loạn chày vôi hoặc giặc chày vôi.

Tương truyền, dân chúng từng ca thán:

Vạn Niên là vạn niên nào
Thành xây xương lính, hào đào máu dân

Tuy nhiên, cuộc đảo chính thất bại. Cả nhà Ưng Đạo đều bị hại. Đoàn Hữu Trưng và hai người em bị giết lúc chỉ mới 22 tuổi. Sau sự kiện đó, vua Tự Đức đã cho đổi tên Vạn Niên Cơ thành Khiêm Cung, sau khi vua mất được gọi là Khiêm Lăng. Gần 50 công trình trong lăng ở cả hai khu vực tẩm điện và lăng mộ đều có chữ Khiêm trong tên gọi, như cửa Vụ Khiêm, Chí Khiêm Đường – nơi thờ các bà vợ vua, Khiêm Cung Môn,…

Bố cục khu lăng gồm hai phần chính, được bố trí trên hai trục dọc song song với nhau, cùng lấy núi Giáng Khiêm ở phía trước làm tiền án, núi Dương Xuân làm hậu chẩm, hồ Lưu Khiêm làm yếu tố minh đường (một thế đất tốt trong phong thủy, lấy từ thực tế vốn là nơi thiên tử ngự triều và bá quan văn võ triều bái). Toàn cảnh lăng như một công viên rộng lớn, quanh năm có nước chảy, thông reo, hoa nở, bướm bay, chim muông ca hát. Giữa khung cảnh đó, người hậu thế đến đây không hề nghĩ rằng mình đang ở giữa một khu lăng mộ lạnh lẽo và u ám.

Một bức tường đá ong cao và rêu phong che phủ

Hồ Lưu Khiêm nguyên là một con suối nhỏ chảy trong khu vực lăng, được đào rộng thành hồ.

Đây được xem như là yếu tố “minh đường” trong phong thủy để “tụ thủy”, “tích phúc”, đồng thời cũng được thả hoa sen để tạo cảnh quan.

Trên hồ Lưu Khiêm có Xung Khiêm Tạ và Dũ Khiêm Tạ, nơi nhà vua đến ngắm hoa, làm thơ, đọc sách…

Ba cây cầu Tuần Khiêm, Tiễn Khiêm và Do Khiêm bắt qua hồ dẫn người ta đến đồi thông bạt ngàn và đảo xanh ngát hương cỏ hoa

Bên trong lăng Tự Đức – Những dấu ấn thời gian

Cho “sọt dưa” ké ảnh tác giả tí nha. Ảnh: Đặng Văn Thưởng

Chính giữa là điện Hòa Khiêm nơi vua làm việc, nay là nơi thờ cúng bài vị của vua và Hoàng hậu. Hai bên tả, hữu là Pháp Khiêm Vu và Lễ Khiêm Vu dành cho các quan văn võ theo hầu.

Bên trong điện Hòa Khiêm

Sau điện Hòa Khiêm là điện Lương Khiêm, xưa là chỗ nghỉ ngơi của vua, về sau được dùng để thờ vong linh bà Từ Dũ, mẹ vua. Bên phải điện Lương Khiêm là Ôn Khiêm Đường – nơi cất đồ ngự dụng. Đặc biệt, phía trái điện Lương Khiêm có nhà hát Minh Khiêm để nhà vua xem hát, được coi là một trong những nhà hát cổ nhất của Việt Nam hiện còn. Có một hành lang từ điện Ôn Khiêm dẫn ra Trì Khiêm Viện và Y Khiêm Viện là chỗ ở của các cung phi theo hầu nhà vua, ngay cả khi vua còn sống cũng như khi vua đã chết.

Khu vực phía sau điện Hòa Khiêm

Một số khu vực xuống cấp, nên cần những cây cột chống đỡ

Khiêm Cung Môn

Một công trình hai tầng dạng vọng lâu như một thế đối đầu tiên với hồ Lưu Khiêm ở đằng trước.

Hồ Lưu Khiêm nhìn từ Khiêm Cung Môn

Những chậu hoa cúc trong sân, dư âm của tết còn sót lại

Lăng hoàng hậu Lệ Thiên Anh

Trong lăng cũng phục vụ biểu diễn ca Huế

Chốt lại, nếu là một người yêu thích kiến trúc, thiên nhiên, ham học hỏi đặc biệt là lịch sử – văn hóa, thì bạn nên dành nhiều thời gian (nguyên một buổi trong ngày) mới có thể tham quan, tìm hiểu hết nơi đẹp đẽ và thơ mộng này.

Một số thông tin về vua Tự Đức

Tự Đức sinh ngày 22 tháng 9 năm 1829, mất ngày 19 tháng 7 năm 1883), tên thật là Nguyễn Phúc Hồng Nhậm, khi lên ngôi đổi thành Nguyễn Phúc Thì, là vị Hoàng đế thứ tư của triều Nguyễn. Ông là vị vua có thời gian trị vì lâu dài nhất của nhà Nguyễn, trị vì từ năm 1847 đến 1883 (36 năm). Ông được truy tôn miếu hiệu là Nguyễn Dực Tông.

Nguyễn Phúc Hồng Nhậm là con thứ của vua Thiệu Trị và bà Phạm Thị Hằng (Từ Dũ Thái hậu). Khi còn nhỏ Hồng Nhậm còn có tên khác là Nguyễn Phúc Thì. Vì anh trai của ông Nguyễn Phúc Hồng Bảo là một người ham chơi, mê cờ bạc, không chịu học hành, vì vậy, vua Thiệu Trị trước lúc qua đời, đã để di chiếu truyền ngôi cho ông. Bấy giờ ông mới 19 tuổi, nhưng học hành đã thông thái. Đến tháng 10 năm 1847, ông chính thức lên ngôi hoàng đế ở điện Thái Hòa, đặt niên hiệu là Tự Đức, bắt đầu từ năm sau là 1848. Khi Tự Đức lên cầm quyền, triều đình vẫn cai trị tuân theo phong cách Nho giáo.

Triều đại của ông đánh dấu nhiều sự kiện xấu với vận mệnh Đại Nam (quốc hiệu của Việt Nam từ thời vua Minh Mạng đến hết thời vua Bảo Đại của nhà Nguyễn). Năm 1858, liên quân Pháp – Tây Ban Nha nổ súng tấn công Đà Nẵng. Trước tình hình người Pháp xâm lấn trong triều đình đặt ra vấn đề cải cách, liên tiếp các năm từ 1864 đến 1881, các quan liên tiếp dâng sớ xin nhà vua cho cải cách toàn diện đất nước nhưng các đình thần lại không thống nhất, nhà vua cũng không đưa ra được quyết sách dứt khoát. Mãi đến năm 1878, triều đình mới bắt đầu cử người thực hiện các bước đầu tiên trong quá trình cải cách là cho học tiếng nước ngoài, nhưng đình thần vẫn bất đồng và nảy sinh hai phe chủ trương cải cách và bảo thủ, rồi đến khi nước Đại Nam dần rơi vào tay quân Pháp cũng nảy sinh hai phe chủ chiến và chủ hòa.

Triều đình nhà Nguyễn ngày càng bất lực trước sự tấn công của Pháp, chỉ mong cắt đất cầu hòa. Cuối cùng, tới năm 1883, Tự Đức qua đời, ngay sau đó Pháp tấn công vào kinh đô và ép buộc nhà Nguyễn phải công nhận sự “bảo hộ” của Pháp trên toàn Đại Nam. Nhà Nguyễn sau thời Tự Đức chỉ còn là danh nghĩa, thực tế thì đã mất nước vào tay Pháp.

Lúc còn sống, vua Tự Đức khước từ mọi giao thiệp với người phương Tây, dầu việc giao thiệp chỉ nhằm phục vụ thương mại. Năm 1850, có tàu của Hoa Kỳ vào cửa Đà Nẵng có quốc thư xin thông thương nhưng nhà vua làm ngơ không thèm tiếp thư.

Sau khi lên ngôi vào năm 1848 thì vua Tự Đức đã có dụ cấm đạo Công giáo, cũng vì sự cấm đạo tàn nhẫn này sẽ dẫn tới thực dân Pháp sau này có cớ mà qua xâm chiếm Việt Nam.

Tự Đức đã nhận xét về Công giáo rằng: “Họ bảo Thiên Chúa tức là Thượng đế, Thượng đế là chúa tể của trời, tức là sáng tạo ra trời đất, vạn vật. Họ lại nói Thiên chúa không phải là trời, không phải là đất, không phải là lý, không phải là đạo, không phải là khí, không phải là tính, không phải là người, không phải là vật, không phải là quỷ, không phải là thần, đó là đầu mối của vạn vật, mà chính mình không bắt đầu từ đâu cả… đem so với Lão Tử khi nói “Vô danh là bắt đầu của trời vật, Đạo sinh ra một, một sinh ra hai” mới thấy thuyết của Gia Tô lại càng xuyên tạc thô sơ, họ chỉ biết mượn Thiên Chúa để che giấu cái dấu tích Gia Tô, và để làm văn hoa cho sự lầm lỗi vì đã thờ phụng xằng mà không kể gì đến gốc tích nữa“.

Tuy nhiên, nhìn chung vua Tự Đức được đánh giá là một vị vua có tư cách tốt. Ông chăm chỉ xem xét việc triều chính và không hề trễ nải, được các quan nể phục.

Tự Đức là ông vua hay chữ nhất triều Nguyễn, nên ông rất đề cao Nho học. Ông chăm về việc khoa bảng, sửa sang việc thi cử và đặt ra Nhã Sĩ Khoa và Cát Sĩ Khoa, để chọn lấy người có tài văn học ra làm quan. Tự Đức là người ham học, hiểu biết nhiều và đặc biệt yêu thích thơ văn. Đêm nào ông cũng xem sách đến khuya. Nhà vua cũng rất thích lịch sử, yêu nghệ thuật.

Tự Đức được người đời ca tụng là một ông vua có hiếu. Dù làm vua, Tự Đức luôn kính cẩn vâng lời mẹ dạy. Ông đã ghi chép những lời răn của mẹ vào một cuốn sách, đặt tên là Từ huấn lục.

Vua Tự Đức có 103 người vợ, được chia theo 9 bậc. Đa số bà vợ có thứ bậc cao là con quan đại thần. Ông không đặt Hoàng hậu, mà chỉ cao nhất là Hoàng quý phi. Lệ Thiên Anh hoàng hậu húy là Vũ Thị Duyên, con của Thái Tử Thái Bảo, Đông Các Đại Học Sĩ, kiêm quản Quốc Tử Giám sự vụ Vũ Xuân Cẩn. Lăng của bà hiệu Khiêm Thọ Lăng, bên phía tả Khiêm Lăng, tại làng Dương Xuân Thượng, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên.

Dù nhiều vợ như vậy, nhưng vì lúc nhỏ vua Tự Đức bị bệnh đậu mùa nên ông không có con. Và mặc dù hết lòng hiếu thảo với mẹ nhưng thật oái oăm và nghiệt ngã thay, chính bản thân vua lại phải mang tội đại bất hiếu. Vì theo quan niệm của chế độ phong kiến ngày xưa thì “Bất hiếu hữu tam, vô hại vi đại”, có nghĩa là người đàn ông mà không có người nối dõi tông đường (không có con trai) là mang tội đại bất hiếu. Vì vậy, vua Tự Đức đã nhận ba người cháu làm con nuôi: Hoàng trưởng tử Nguyễn Phúc Ưng Ái (1869 đổi thành Ưng Chân), tức vua Dục Đức; Hoàng tử Nguyễn Phúc Ưng Kỷ, tức vua Đồng Khánh; Hoàng tử Nguyễn Phúc Ưng Đăng, tức vua Kiến Phúc.

Bài viết có sử dụng tư liệu tổng hợp và biên tập từ nhiều nguồn trên Internet.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s