Yên bình lăng Ông Bà Chiểu Sài Gòn


Lăng Ông, tức khu lăng mộ thờ đức Tả quân – Tổng trấn Gia Định thành Lê Văn Duyệt (1764-1832) tọa lạc giữa bốn con đường: Đinh Tiên Hoàng, Phan Đăng Lưu, Trịnh Hoài Đức và Vũ Tùng, quận Bình Thạnh, TP.HCM. Vì lăng nằm cạnh chợ Bà Chiểu nên dân cư xung quanh quen gọi là lăng Ông Bà Chiểu.

>> Những bức ảnh hiếm về Sài Gòn năm 1967 qua ống kính của Morton Brown
>> Chụp ảnh ở trường đại học

“Khu vực chợ Bà Chiểu hiện nay ngày xưa là một cái ao tự nhiên trong một vùng đất cao, um tùm cây cao bóng cả. Dân cư bấy giờ còn thưa thớt. Họ tin nơi này rất linh thiêng nên đã dựng lên một cái miếu thờ Bà (theo tín ngưỡng dân gian) bên cạnh ao nước. Vì vậy từ “chiểu” không phải là tên bà nào cả, mà theo chữ Hán nghĩa là “cái ao” nên dân gian gọi nơi này là Bà Chiểu. Tương tự, các địa danh Bà Hom, Bà Quẹo cũng chẳng phải là tên người mà là do đọc chệch các địa danh Bàu Hom (tức là cái bàu ngâm hom tre), Bàu Quẹo (cái bàu nơi khúc quẹo một cung đường). Địa danh Bàu Cát gần đó xưa là một cái bàu nhiều cát đã bị lấp, nay là một khu dân cư sầm uất, hiện đại.

Khu vực Bà Chiểu không có tên trên bản đồ hành chính nhưng từ lâu đời đã nằm trong tâm thức bà con cư dân ở đây. Vùng Bà Chiểu được mặc định khoanh vùng từ đầu đường Nơ Trang Long chạy tới ngã năm Bình Hòa, xuống đường Chu Văn An, qua đường Đinh Bộ Lĩnh tới Điện Biên Phủ, chạy tới cầu Điện Biên Phủ quẹo bờ kè đường Trường Sa, bọc qua khu Miếu Nổi tới cầu Hoàng Hoa Thám, rồi qua đường Vạn Kiếp trở về tới bệnh viện Nhân dân Gia Định đầu đường Nơ Trang Long…

Sau khi Lê Văn Duyệt mất năm 1932, vua Minh Mạng cho đổi trấn Gia Định thành tỉnh Phiên An và cử Nguyễn Văn Quế làm tổng đốc, Bạch Xuân Nguyên làm bố chánh. Cả hai theo mật lệnh của vua Minh Mạng vào truy tội Lê Văn Duyệt và hạch tội con nuôi của ông là Lê Văn Khôi. Họ bắt giam nhiều người thân cận với vị tổng trấn quá cố, trong đó có Lê Văn Khôi.

Nên nhớ Minh Mạng rất thù Lê Văn Duyệt, người đã từng dám chặt đầu cha vợ của vua là Phó Tổng trấn Huỳnh Công Lý vì tội tham ô, bởi Lê Văn Duyệt có thượng phương bảo kiếm do vua Gia Long trao cho, có quyền tiền trảm hậu tấu. Lê Văn Duyệt cũng đã đuổi Bạch Xuân Nguyên, một thân tín của Minh Mạng, về kinh. Lê Văn Khôi bị bắt giam vào ngục nhưng ông đã móc nối được các quan quản cơ và binh lính nội ứng, phá ngục, giết cả Tổng đốc Nguyễn Văn Quế và Bố chánh Bạch Xuân Nguyên, chiếm giữ thành Gia Định trong gần ba năm trong sự bất lực của quân triều đình đã nhiều lần vào đánh tái chiếm. Trận chiến đẫm máu giữa quân triều đình và quân nổi dậy kéo dài mấy năm trời.

Khi Lê Văn Khôi chết vì bệnh năm 1835, quân nổi dậy của ông do phó tướng, cũng là em kết nghĩa, là Tần La Hiệp thay ông chỉ huy bị quân triều đình dẹp tan. Vua Minh Mạng kết tội Lê Văn Duyệt gián tiếp gây ra biến loạn, đã ra chỉ dụ san bằng mộ, đánh 100 trượng lên mộ và xích một sợi dây xích sắt vào cột đá dựng trên mộ có khắc tám chữ “Quyền yểm Lê Văn Duyệt phục pháp xử” (chỗ tên hoạn quan Lê Văn Duyệt chịu tội), theo Đại Nam thực lục chính biên. Sau khi chiếm lại thành, năm 1836 vua Minh Mạng cho đổi tên tỉnh Phiên An thành tỉnh Gia Định. Đến năm 1841, vua Thiệu Trị lên ngôi cho dẹp bỏ trụ đá hài tội và đắp lại mộ Ông. Bảy năm sau, vua Tự Đức lên ngôi lại phục hồi quan tước cho Lê Văn Duyệt và con cháu nhưng vì ông không có con cháu ruột, chỉ có người cháu họ là cháu nội của người em Lê Văn Phong, tên Lê Văn Thi, từ lâu nay trốn tránh vì sợ tội liên lụy, đã được phép đến chăm sóc hương khói lăng Ông. Hiện nay ở trong lăng có thờ ông Thi làm tiền hiền.

Lăng Ông là khu đền và ngôi mộ đôi của Tả Quân Lê Văn Duyệt và vợ là bà Đỗ Thị Phận. Lê Văn Duyệt vốn là người không có khả năng làm chồng nhưng vì muốn chứng tỏ mình là đàn ông nên ngoài người vợ là Đỗ Thị Phận – vốn là một cung nhân do vua Gia Long gả cho, ông còn cưới thêm hai cô hầu nữa. Tương truyền, khi Tả quân – Tổng trấn mất, dân Gia Định đi theo quan tài rồng rắn hàng mấy dặm. Tiễn biệt ông, ngoài người Việt, đông đảo người Hoa còn có giới Phật giáo, tín đồ Thiên Chúa giáo và cả các nhà truyền giáo Việt và Tây dương cũng đưa tiễn ông.

Lúc đầu ngôi mộ được xây bằng đá ong. Cạnh cây đa lớn trong khuôn viên, người dân dựng lên một ngôi miếu có tên là “Thượng Công linh miếu”, không ngày nào là không có người đến dâng hoa trái, đốt hương cầu nguyện. Năm 1914, đốc phủ Gia Định Đỗ Hữu Vị đã thành lập Hội Thượng Công quý tế, tổ chức việc cúng tế và lo việc trùng tu lăng miếu. Giỗ ông hằng năm được tổ chức vào các ngày 29 hoặc 30-7 và mùng 1, mùng 2 tháng 8 âm lịch.

Dân gian từ xưa nay coi ông như thần và tế lễ ông tại lăng mang nghi thức thờ thần, tế thần. Ngoài người địa phương còn có khách các tỉnh xa. Đặc biệt người Hoa chiếm một nửa đi tế lễ ông, họ coi ông như Phúc thần vì lúc sinh tiền, Tổng trấn Gia Định thành đã có những chính sách, chủ trương nâng đỡ, tạo điều kiện cho cộng đồng người Hoa làm ăn, an cư lạc nghiệp.

Sau khi Lê Văn Duyệt chết, bà Phận đi tu tại một ngôi chùa ở gần chợ Rẫy – khu BV Chợ Rẫy hiện nay. Khi bà chết được chôn cạnh ông. Trước sân lăng là ngôi mộ song đôi của ông bà. Còn mộ hai cô hầu nằm cách xa bên tả trong một khuôn viên ở góc đường Trịnh Hoài Đức và Ngô Nhân Tịnh“.

(Biên tập từ nhiều nguồn trên Internet).

Dưới đây là một số hình ảnh lăng Ông mà mình chụp trong một buổi sáng chủ nhật đẹp trời. Đây cũng là lần đầu tiên mình bước vô đây, mới biết ở nơi này, quang cảnh thì rộng, cỏ cây xanh mướt mát, nắng vàng ươm, kiến trúc đẹp, và có nhiều người dân ra vô tập thể dục vui vẻ yên bình làm sao!

Hình ảnh cổng tam quan lăng Ông in trên các tấm thiệp bưu chính trước năm 1975 được coi như biểu tượng của vùng Sài Gòn – Gia Định xưa.

Ảnh chụp bằng ứng dụng Foodie trên Iphone 7.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s