Lướt qua cù lao Phố, Biên Hòa


Cù lao Phố, cái tên đọc lên nghe đã thấy thân thương. Càng trân quý hơn nữa nếu chịu khó tìm hiểu thông tin về mảnh đất đã từng là thương cảng sầm uất của cả vùng Gia Định (tức Nam bộ ngày nay) trong thế kỷ XVII – XVIII.

Người có công lớn trong công cuộc phát triển vùng cù lao Phố chính là Trần Thượng Xuyên. Sử sách ghi lại, Trần Thượng Xuyên (tự Trần Thắng Tài) nguyên là tổng binh ba châu Cao – Lôi – Liêm dưới triều Minh (Trung Quốc). Bởi không chịu làm tôi tớ nhà Thanh nên ông đã dẫn thuộc hạ sang thần phục chúa Nguyễn Phúc Tần vào năm 1679 và được cho vào đây cư trú, mang chức Trấn Biên Đô đốc tướng quân.

Ban đầu nhóm Trần Thượng Xuyên đi đến Bàn Lân (thuộc Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai ngày nay), khi đó, vùng đất này còn là rừng rú. Vốn quê quán vùng Đông Nam Trung Quốc, thạo nghề mua bán và công nghệ, họ đã phát hiện ra cù lao Phố, một bãi sa bồi hoang sơ nằm giữa sông Hương Phước (một đoạn của sông Đồng Nai), trải dài trên 7 dặm, bề ngang bằng 2/3 bề dài. Tuy nằm cách biển nhưng là nơi sông sâu, nước chảy, từ đây có thể ngược lên phía Bắc khai thác nguồn hàng lâm thổ sản, và nếu xuôi theo phía Nam thì có thể ra biển Cần Giờ hay sang tận Cao Miên (Campuchia). Cho nên một phần lớn nhóm người Hoa đã chuyển từ Bàn Lân đến cù lao Phố, cùng với nhóm lưu dân người Việt đến trước, Trần Thượng Xuyên và lực lượng của mình tiến hành khai khẩn quy mô lớn. Với biệt tài tổ chức, chẳng bao lâu ông đã biến vùng đất hoang sơ trở thành thương cảng, trung tâm thương mại và giao dịch quốc tế của cả vùng Gia Định. Sự phát đạt của thương nghiệp đã lôi kéo những ngành nghề thủ công khác phát triển theo, như dệt chiếu, tơ lụa, gốm, đúc đồng, nấu đường, làm bột, chạm khắc gỗ, đóng thuyền, làm pháo,…

Nhưng một cù lao Phố huyền thoại trong lịch sử chỉ kéo dài được 97 năm (1679-1776), bởi hai sự kiện lớn: cuộc bạo loạn vì lòng tham do Lý Văn Quang (tự xưng là Giản Phố Đại vương) cầm đầu, và cuộc đàn áp của quân Tây Sơn nhắm vào những người Hoa đã ủng hộ Nguyễn Ánh.

Sau này, khi Trần Thượng Xuyên qua đời, để ghi nhớ công ơn của ông, nhân dân trong vùng đã lập ngôi miếu nhỏ thờ cúng, sau nhiều lần dịch chuyển thì đã yên vị ở đình Tân Lân (Tân Lân thành phố miếu) toạ lạc trên đường Nguyễn Văn Trị, TP. Biên Hòa ngày nay.

Địa danh cù lao Phố (còn được gọi là Đông Phố, Giản Phố, Cù Châu, hay Nông Nại Đại Phố) là một dải đất sa bồi được hình thành do sông Đồng Nai chảy đến một khúc quanh thì tự chia hai. Ngày nay, tên gọi của cù lao là xã Hiệp Hòa, một vùng xanh mát nằm ở phía Đông Nam của TP. Biên Hòa. Đây không phải là một địa danh du lịch, nhưng những ai thích tìm hiểu các giá trị lịch sử, văn hóa, yêu mến cảnh thôn quê thanh bình, thì nên đến đây một lần.

Cù lao Phố có đình Bình Kính thờ Nguyễn Hữu Cảnh, cùng hai ngôi chùa nổi tiếng: một là chùa Đại Giác xưa nhất xứ Đồng Nai (lập từ năm 1412; nơi Nguyễn Ánh trên đường trốn chạy quân Tây Sơn đã từng được nhà chùa cưu mang; và cũng là nơi lưu truyền mối tình đơn phương cảm động của công chúa Nguyễn Thị Ngọc Anh – con gái Nguyễn Ánh với Thiền sư Liễu Đạt Thiệt Thành), và ngôi chùa thứ hai là chùa Ông (chùa người Hoa thờ Quan Công).

Mình và người bạn ngẫu hứng chạy qua cù lao Phố vào đêm Nguyên Tiêu. Theo quốc lộ 1K thẳng hướng về TP. Biên Hòa, qua cầu Hóa An thì quẹo phải vô đường Cách Mạng Tháng Tám. Cứ chạy thẳng hoài khi gặp đường ray xe lửa băng ngang thì nhìn bên tay phải sẽ thấy cầu Ghềnh bằng sắt bắt qua sông Đồng Nai, bạn có thể chạy qua cây cầu này, hoặc băng qua đường ray xe lửa, chạy thêm tí nữa thì gặp cầu Hiệp Hòa (mới xây xong năm 2012) cũng bên tay phải, qua cầu là tới.

Cù lao Phố đất rộng, người thưa. Vùng tập trung dân cư chỉ ở xung quanh các điểm tham quan lịch sử – tâm linh nhắc trên. Còn lại là đất trống bao bọc quanh sông Đồng Nai, được người ta trồng cây ăn trái. Có những quán cà phê, quán nhậu ven sông, gió lồng lộng, nhưng hoàn toàn vắng khách. Từ cầu Hiệp Hòa, hai đứa thử chạy xe ra xa trung tâm, đến gần mé sông, chỉ thấy một vùng rộng lớn, nơi con đường còn đang làm dang dở và bụi tung mù mịt.

Một góc cù lao Phố về đêm

Nhưng được cái, do vị trí ở giữa sông, nên xứ này có khí hậu mát lành dễ chịu, nghe nói là dễ chịu nhất của Biên Hòa với nhiệt độ luôn thấp hơn 2 độ C. Ở trung tâm cù lao, mọi hoạt động vẫn diễn ra như những nơi phố thị khác, nhưng khiến cho người ta có cảm giác gần gũi và êm ả hơn nhiều.

Thử ghé vô đình Bình Kính, nơi cửa rộng mở, dù đêm đã buông, và chẳng thấy ai trông nom. Một mái đình chính uy nghiêm và cổ kính. Một tấm bia đá mới dựng sau này. Và một khoảng sân sau rộng rãi, nơi có hàng cây, chiếc ghế đá có thể ngồi ngắm cảnh cầu Ghềnh về đêm hay những chiếc xà lan, những con thuyền rẽ nước xuôi dòng. Gió từ mặt sông Đồng Nai thổi lên mát rượi, bao ưu phiền của cuộc sống tất bật cũng từ đó mà bay đi hết.

Cầu Ghềnh nhìn từ đình Bình Kính

Ăn tô bánh canh chay gần cổng chùa Đại Giác, hai đứa chạy xe về, mang theo những cảm xúc khác nhau về một mảnh đất từng phát triển trù phú suốt gần một thế kỷ. Đúng là “vận đổi sao dời”, “không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời”.

Có lẽ, chúng tôi sẽ trở lại, trong một ngày nào đó, để ngắm xứ này kỹ hơn, vào ban ngày.

Bài viết có sử dụng tư liệu từ Wikipedia.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s