Từ truyền thuyết Đức Phật…


Bài viết có tham khảo nguồn từ Wikipedia, daophatngaynay và một số tài liệu khác.

Mặc dù cuộc đời vị Phật lịch sử Thích Ca Mâu Ni (còn được biết đến dưới cái tên Phật Tổ Như Lai) có nhiều huyền thoại bao phủ nhưng các nhà khảo cổ học và nhân chủng học – vốn hay có nhiều hoài nghi và thành kiến – cũng đều nhất trí công nhận Đức Phật là một nhân vật lịch sử và người đã khai sáng Phật giáo.

Tương truyền, ở vùng đất mang tên Jambudvipa (Bắc Ấn Độ ngày nay), 2555 năm trước, là nơi tập hợp của nhiều vương quốc lớn nhỏ. Một trong những vương quốc đó là Kapilavastu (thuộc Nepal ngày nay). Cai trị vương quốc là vua Suddhodana thuộc giòng họ Sakya (Thích Ca). Một đêm, hoàng hậu Maya nằm mơ thấy một vị Bồ Tát dưới hình dạng con voi trắng nhập vào người mình. Bà mang thai từ đó.

Khi gần đến ngày sinh nở, hoàng hậu yêu cầu được đi đến thành phố Devadaha. Khi đi được nửa đoạn đường, ngang qua công viên Lumbini (Lâm Tỳ Ni), hoàng hậu trông thấy một bông hoa trắng nở ra từ một cành cây cổ thụ lớn trong vườn. Cánh hoa mới nở hôm đó cũng là lần nở hoa duy nhất sau cả ngàn năm cây cổ thụ đã tồn tại ở công viên này. Đó chính là hoa Vô Ưu mà ngày nay ta hay thấy trong sân các ngôi chùa.

Hôm ấy là rằm tháng Tư âm lịch, giữa mùa hè nóng ẩm của xứ nhiệt đới, khoảng năm 566 (hay 563 TCN). Hoàng hậu Maya vươn tay phải ra để đụng đến cành hoa. Từ trong nách phải, trong giây phút cánh tay bà đụng đến cánh hoa, thái tử được sinh ra. Ngài nhảy xuống đất, bước đi bảy bước. Mỗi bước chân mà Ngài đặt xuống có một đóa sen hồng nở lên. Khi bước đến bước thứ bảy, Ngài dừng lại, ngón tay trỏ phải chỉ lên trời, ngón trỏ trái chỉ xuống đất, tuyên bố: “Thiên thượng địa hạ, duy ngã độc tôn”, nghĩa là “Trên trời dưới đất chỉ có ta là người đáng tôn kính”.

“Ta là người cao quý nhất thế gian
Ta là người giỏi nhất thế gian
Ta là người kiệt xuất nhất thế gian
Đây là lần tái sinh cuối cùng
Bây giờ ta không còn tái sinh!”

Ngày nay, trong tranh hay tượng Phật còn thấy tích này.

Thái tử được đặt tên là Tất Đạt Đa (sa. siddhārtha) có nghĩa là “người đã hoàn tất ý nghĩa cuộc sống”. Các nhà tiên tri cho rằng Tất Đạt Đa sẽ trở thành hoặc một đại đế hay một bậc giác ngộ. Bảy ngày sau khi sinh, hoàng hậu Maya qua đời. Tất Đạt Đa được người dì chăm sóc. Năm lên 16 tuổi, Tất Đạt Đa kết hôn với công chúa Da Du Đà La (Yaśodharā).

Vua cha Suddhodana dĩ nhiên không muốn thái tử đi tu nên dạy dỗ con rất kỹ lưỡng, nhất là không để Tất Đạt Đa tiếp xúc với cảnh khổ. Tuy thế, sau bốn lần ra bốn cửa thành và thấy cảnh người già, người bệnh, người chết và một vị tu sĩ, thái tử phát tâm muốn lìa xa cung điện, sống cảnh không nhà. Tương truyền rằng, bốn cảnh ngộ vừa kể là những cảnh tượng do các vị thiên nhân tạo ra nhằm nhắc nhở Tất Đạt Đa lên đường tu học Phật quả. Tất Đạt Đa thấy rằng ba cảnh đầu tượng trưng cho cái khổ trong thế gian và hình ảnh tu sĩ chính là cuộc đời của Tất Đạt Đa.

Năm 29 tuổi, sau khi công chúa Da Du Đà La hạ sinh một bé trai – được đặt tên là La Hầu La (Rāhula), thái tử quyết định lìa cung điện, cùng tu khổ hạnh với nhiều nhóm tăng sĩ khác nhau, tìm mọi đạo sư với các giáo pháp khác nhau. Theo truyền thống Ấn Độ bấy giờ chỉ có con đường khổ hạnh mới đưa đến đạt đạo.

Nhưng Tất Đạt Đa đã không tìm ra lời giải cho thắc mắc của mình từ các vị cao tăng nổi tiếng, nên quyết tâm tự mình tìm đường giải thoát và có năm tỳ kheo (phiên âm từ tiếng Phạn, còn gọi là tỷ khâu, để chỉ những người tu hành thường sống thanh tịnh, xin ăn khổ cực để nuôi sống) đồng hành. Sau nhiều năm tu khổ hạnh gần kề cái chết, Tất Đạt Đa nhận ra cách tu cực khổ không phải là phép tu dẫn đến giác ngộ, nên bắt đầu ăn uống bình thường. Năm vị tỳ kheo kia thấy vậy thất vọng bỏ đi.

Sau đó Tất Đạt Đa đến ngồi dưới gốc một cây bồ đề ở Bodh Gaya (Bồ Ðề Ðạo Tràng) và nguyện sẽ nhập định không rời chỗ ngồi cho đến lúc tìm ra nguyên nhân và cơ chế của Khổ. Sau 49 ngày thiền định – mặc dù bị Ma vương quấy nhiễu – Tất Đạt Đa đã đạt giác ngộ hoàn toàn ở tuổi 35. Từ thời điểm đó, Tất Đạt Đa biết mình là Phật, là một bậc giác ngộ, và biết rằng mình sẽ không còn tái sinh.

Bậc giác ngộ lúc đó biết rằng kinh nghiệm giác ngộ của mình không thể dùng ngôn từ hay bất cứ một cách nào khác để truyền đạt nên Đức Phật tiếp tục yên lặng ngồi thiền định dưới gốc cây bồ đề. Cuối cùng, được sự thỉnh cầu nhiều nơi, Ngài mới quyết định chuyển Pháp luân. Phật giờ đây mang danh hiệu Thích Ca Mâu Ni – “Trí giả của dòng dõi Thích-ca”. Sau đó Đức Phật gặp lại năm vị tỳ kheo, các vị đó nhận ra rằng Ngài đã hoàn toàn thay đổi. Qua ánh hào quang toả ra từ thân Phật, các vị đó biết rằng người này đã đạt đạo, đã tìm ra con đường thoát khổ, con đường mà các vị không thể tìm ra bằng phép tu khổ hạnh. Các vị đó xin được giảng pháp và vì lòng thương chúng sinh, Đức Phật đã chấm dứt sự im lặng. Ngài bắt đầu giảng pháp bằng cách trình bày con đường dẫn đến kinh nghiệm giác ngộ và giải thoát.

Cuộc đời Đức Phật cũng gặp nhiều người xấu muốn ám hại. Trong số đó, có Đề Bà Đạt Đa là người em họ, muốn giành quyền thống lĩnh Tăng Già, nên rắp tâm tìm cách giết hại Đức Phật nhiều lần nhưng không thành.

Theo kinh Đại Bát Niết Bàn, Đức Phật nhập diệt tại Câu Thi Na (Kuṣinagara) vào năm 486 (hay 483 TCN). Lời dạy cuối cùng của Ngài là: “Tất cả các pháp hữu vi đều vô thường, chịu biến hoại, hãy tinh tiến tu học (để đạt giải thoát)!”.

Trong buổi hoả thiêu thân xác của Đức Phật có nhiều hiện tượng lạ xảy ra. Sau khi lửa tàn, người ta tìm thấy trong tro có rất nhiều tinh thể trong suốt, hình dạng và kích thước khác nhau, cứng như thép, lóng lánh và tỏa ra những tia sáng muôn màu, giống như những viên ngọc quý, tất cả được 84.000 viên. Đó chính là các hạt xá lợi, điều mà khoa học vẫn chưa thể giải thích được.

Từ truyền thuyết về Đức Phật, tôi nghĩ không ai khác chính mình mới hiểu rõ bản thân mình, mới là người tìm ra con đường riêng cho mình, là người có thể tự trả lời những câu hỏi của bản thân đặt ra, và cũng chính mình mới biết mình có đi đến tận cùng con đường riêng của mình hay không, bằng lòng quyết tâm, niềm tin vào bản thân và sự kiên trì.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s